Cập nhật Nhà đầu tư nước ngoài chê ngân hàng yếu

Vay tiền online siêu nhanh hay còn gọi là vay tiền online là hình thức vay tiền từ 500k đến 10 triệu nhanh chóng với hồ sơ cực kỳ đơn giản, không cần chứng minh thu nhập, vay tiền online chỉ cần có CMND và tài khoản ngân hàng chính phủ. Khoản vay sẽ được nhận qua chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng, nhận ngay sau khi được duyệt.

Taichinh1s là website so sánh, phân tích các sản phẩm, dịch vụ cho vay trực tuyến giúp bạn khắc phục khó khăn về vốn đầu tư. Trang web này không thuộc về một ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo hiểm nhân thọ hoặc bất kỳ tổ chức nào khác và không cung cấp bất kỳ khoản vay nào.

Tất cả các lựa chọn khoản vay và thời gian thanh toán đều do bạn chịu trách nhiệm và chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về bất kỳ vấn đề nào phát sinh giữa bạn và người cho vay. Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo!
Nội dung bài viết dưới đây, tôi xin chia sẻ với độc giả việc nhà đầu tư nước ngoài chê ngân hàng này yếu kém.

Việc mở thêm “room” cho nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng sẽ là cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành tài chính Việt Nam.

Nhà đầu tư nước ngoài chỉ trích ngân hàng yếu kém

Yun Hang Jin Giám đốc Bộ phận Thị trường mới nổi, Công ty Đầu tư & Chứng khoán Hàn Quốc (Hàn Quốc)

Tuy nhiên, các ngân hàng nhỏ và yếu chưa chắc đã hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, bởi nợ xấu vẫn là gánh nặng lớn. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, yếu tố quan trọng để cân nhắc đầu tư vẫn là tiềm năng tăng trưởng trong tương lai, thay vì chỉ mua để giải quyết vấn đề rồi bán lại.

Cơ hội nhưng không dễ gì có được

Việc Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 01/2014 / NĐ-CP đầu năm nay về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại các ngân hàng trong nước đã phần nào mở ra cơ hội cho các nhà đầu tư.

Nghị định trên quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam, tăng 5% so với quy định cũ hạn chế tỷ lệ sở hữu. sở hữu. cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của họ không quá 15%.

Tuy nhiên, Nghị định cũng nêu rõ, tỷ lệ sở hữu cổ phần của cá nhân nước ngoài không được vượt quá 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam. Tỷ lệ sở hữu cổ phần của tổ chức nước ngoài không được vượt quá 15% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam, trừ trường hợp nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tỷ lệ này không vượt quá 20%.

Mặc dù tổng tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vẫn không vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại, nhưng cần lưu ý trường hợp đặc biệt phải cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém. . , đối mặt với khó khăn, đảm bảo an toàn hệ thống, Chính phủ Việt Nam sẽ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của tổ chức nước ngoài, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và tổng sở hữu cổ phần của nhà đầu tư. cơ cấu lại vốn đầu tư nước ngoài tại ngân hàng cổ phần yếu kém vượt quá quy định đối với từng trường hợp cụ thể.

Thông tin vừa được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố, trong số 9 tổ chức tín dụng được cơ cấu lại đợt 1, chỉ có Ngân hàng GP Bank đang trong quá trình đàm phán với đối tác nước ngoài với khả năng mua lại 100% cổ phần của Công ty. công ty. ngân hàng này.

Thông tin trên cũng cho thấy cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng thông qua việc đẩy mạnh tái cơ cấu. Hai năm trở lại đây, ngành ngân hàng Việt Nam chứng kiến ​​sự chuyển mình ngoạn mục khi làn sóng mua bán và sáp nhập (M&A) dần tăng tốc và phát triển mạnh mẽ. Chính phủ đã tích cực chỉ đạo NHNN xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém theo danh mục được kiểm soát.

Vì vậy, việc nới “room” không chỉ là cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia vào lĩnh vực này, mà còn là kỳ vọng của nhiều ngân hàng nhỏ trong danh sách tái cơ cấu để thu hút nhà đầu tư nước ngoài. . nguồn lực tài chính từ các cổ đông nước ngoài để có thể đáp ứng tốt việc tái cơ cấu.

Chính sách thu hút vốn ngoại cũng được coi là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm đầu tư vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng của Việt Nam. Về lý thuyết, một lựa chọn như vậy sẽ khả thi cho cả hai bên. Bên mua có nhiều cơ hội phát triển hơn khi mua lại 100% vốn của ngân hàng trong nước và trở thành ngân hàng nước ngoài, còn bên bán sẽ giải quyết được khó khăn nội tại.

Nhưng trên thực tế, cũng cần phải xem xét tâm lý của người mua như thế nào. Việc mua – bán này chưa hẳn đã hấp dẫn, nếu nội tại của ngân hàng nhỏ đó thực sự quá yếu và tiềm năng tăng trưởng không như kỳ vọng.

Điều đó cũng có nghĩa, khi hết “room”, một số ngân hàng nhỏ, yếu sẽ không phải là miếng bánh ngon thu hút sự quan tâm của khối ngoại. Mục tiêu của các nhà đầu tư khi đầu tư vào một ngân hàng nhỏ, yếu là có thể phát triển nó mạnh hơn, chứ không phải cứ thấy hết “room” là mua hết.

Còn với việc mở room, dù có điểm mở tốt hơn nhưng khả năng tăng “room” sẽ rất khó. Vẫn còn nhiều lo ngại rằng việc gia tăng tỷ lệ nắm giữ vốn cổ phần nước ngoài sẽ đồng nghĩa với việc nắm quyền chi phối nhiều hơn và do đó rủi ro cho các ngân hàng trong nước.

Điều đó chưa chắc đã đúng trên thực tế, ngược lại, khi tỷ trọng cổ phiếu tăng lên, các đối tác chiến lược nước ngoài mới có thêm cơ hội để cùng nhau thúc đẩy các chiến lược nhằm đưa ngân hàng tăng trưởng. tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài tốt hơn. Giới hạn tối đa hiện tại là 20%. Vì khi quyền lực còn nhỏ, các quyết định của cổ đông nước ngoài thường không được chấp nhận nên dễ xảy ra bất đồng và rút lui.

Nhiều ngân hàng có kế hoạch bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài

Bán nợ xấu: vừa mua thời gian

Ở góc độ trung và dài hạn, việc tái cơ cấu toàn diện hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể gặp nhiều khó khăn do kế hoạch bán nợ xấu chưa hoàn thiện và chưa có kết quả của các hoạt động cụ thể. .

Hiện VAMC mới chỉ thấy mua lại nợ xấu từ các ngân hàng, nhưng khó xử lý triệt để khi chưa hình thành thị trường mua bán nợ. Điều này có thể sẽ làm cho việc tái cấu trúc triệt để mất nhiều thời gian hơn dự kiến.

Trọng tâm của Việt Nam trong năm 2013 là xử lý nợ xấu và kết quả có phần khả quan. Theo thống kê nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam, đến cuối năm 2013, nợ xấu đã giảm xuống còn 3,8% so với mức 4,8% của cuối năm ngoái. Điều này cho thấy xu hướng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đã giảm xuống và sức khỏe của ngành ngân hàng cũng được cải thiện phần nào. Qua đó, có thể thấy những nỗ lực gần đây của Chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy và củng cố niềm tin của thị trường vào quá trình lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là tổng số nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam đã được cải thiện. Xét thực tế bản thân các ngân hàng có cải thiện hay không, chưa thể nói là đã cải thiện tích cực hơn 2 năm trước. Do các ngân hàng thiếu minh bạch và công bố thông tin không đầy đủ, trong đó có tỷ lệ nợ xấu.

Bản thân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, nợ xấu theo báo cáo của các ngân hàng thương mại đã giảm xuống dưới 4%, nhưng theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ này vẫn ở mức 7%. Đồng thời, các tổ chức tài chính trên thế giới cũng tỏ ra hoài nghi về những con số nợ xấu mà ngành ngân hàng Việt Nam đưa ra thời gian qua.

Hiện Việt Nam đã có công cụ xử lý nợ xấu là VAMC và các ngân hàng đang từng bước xúc tiến việc bán nợ xấu cho công ty này. Như vậy, nợ xấu của ngân hàng cũng sẽ được cải thiện cả về chất và lượng.

Tuy nhiên, nếu sau 5 năm, khoản nợ xấu đã bán cho VAMC được giải quyết thì ngân hàng có thể giảm bớt gánh nặng nợ nần. Trường hợp sau 5 năm nợ xấu không được xử lý triệt để thì sẽ trả lại nợ xấu cho ngân hàng. Trong khi đó, việc trích lập dự phòng 20% ​​cho trái phiếu đặc biệt sau khi bán nợ cho VAMC vẫn chưa được các ngân hàng thực hiện đầy đủ.

Đáng chú ý, với những ngân hàng yếu kém, lợi nhuận sụt giảm, thậm chí âm cả lợi nhuận sau thuế thì không còn khả năng trích lập dự phòng. Như vậy, nếu sau 5 năm, khoản nợ xấu đã bán cho VAMC vẫn chưa được xử lý triệt để, trong khi ngân hàng không trích lập dự phòng thì vòng luẩn quẩn nợ xấu sẽ lặp lại.

Mặt khác, hiện tại, VAMC mua nợ xấu của ngân hàng, nhưng đó là nợ xấu quá khứ, nghĩa là đã phát sinh nợ xấu. Trong khi đó, chúng tôi không thể khẳng định rằng nợ xấu của ngân hàng sẽ không còn phát sinh trong vòng 5 năm tới.

Ngược lại, nợ xấu của các ngân hàng có khả năng gia tăng và không loại trừ có ngân hàng lặp lại tình trạng nợ xấu như thời gian qua. Thậm chí, nợ xấu cao hơn hiện tại là hoàn toàn có thể. Khi đó, việc xử lý nợ xấu sẽ khó khăn hơn. Vì vậy, yêu cầu quan trọng nhất và đầu tiên đối với các ngân hàng sau M&A cũng như các ngân hàng nhỏ là quản trị rủi ro để có thể kiểm soát tốt hơn vấn đề rủi ro nợ xấu.

Điều này tạo cảm giác phải rất lâu đến khi nền kinh tế sáng sủa hơn, quá trình tái cơ cấu mới mang lại hiệu quả tích cực, giúp thanh khoản thị trường và tín dụng mới tăng lên. Vì vậy, trước khi đầu tư vào lĩnh vực này, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ cân nhắc kỹ lưỡng.

Thực tế, hiện nay, xét về nhóm cổ phiếu ngân hàng, kể cả ngân hàng niêm yết và ngân hàng đang trong quá trình tái cơ cấu, yếu tố quyết định đối với nhà đầu tư là phải xem xét các yếu tố sau: Các ngân hàng đã cơ cấu lại cổ phiếu như thế nào? Có thể, trong ngắn hạn, từ nay đến cuối năm 2014, các nhà đầu tư vẫn kỳ vọng Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục rót tiền để xử lý nợ xấu thông qua VAMC. Mặc dù, VAMC không mua nợ xấu bằng tiền mặt, nhưng với trái phiếu đặc biệt nhận được, các ngân hàng có thể sử dụng trái phiếu sau khi bán nợ làm tài sản đảm bảo để lấy vốn với lãi suất thấp. Đó cũng là một lý do thu hút các nhà đầu tư trong nước “rót” vốn vào cổ phiếu ngân hàng. TRIỆU

Tuy nhiên, khó có thể kỳ vọng nhóm cổ phiếu này sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới, do ngân hàng đang trong quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu. Do đó, có lẽ phải mất một thời gian dài cổ phiếu ngân hàng mới có thể tăng bền vững.

Hiệu quả hoạt động của nhóm cổ phiếu ngân hàng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả xử lý nợ xấu và đây là một quá trình dài không thể giải quyết trong vài tháng hay một năm. Do đó, chúng tôi nhận thấy việc đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn này không phù hợp với các nhà đầu tư ngắn hạn, mà cần có tầm nhìn dài hạn.

Thực tế, đối với những ngân hàng đã M&A và tái cơ cấu trong 2 năm qua, xét về tỷ lệ nợ xấu, sau M&A, nợ xấu của ngân hàng mới sẽ nhiều hơn khi gộp từ hai TCTD trước. Thống kê về kết quả kinh doanh cũng như báo cáo tài chính của các ngân hàng Việt Nam đã tiến hành M&A trong thời gian qua cho thấy tín hiệu đã phần nào được cải thiện. Tuy nhiên, vẫn chưa thể nói sức khỏe của các ngân hàng sau M&A đã được cải thiện mạnh mẽ và thoát khỏi tình trạng kém thanh khoản, năng lực tài chính yếu. Do đó, nhiều khả năng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ thận trọng khi cân nhắc đầu tư vào lĩnh vực này.

Mới mẻ “Âm mưu” mới của ngân hàng ngoại

Hầu hết các ngân hàng trong nước, kể cả các ngân hàng sau khi bị đối tác ngoại thoái vốn đều chật vật tìm đối tác chiến lược nước ngoài. Có vẻ như, không phải vì lĩnh vực ngân hàng Việt Nam không còn hấp dẫn mà là các nhà đầu tư nước ngoài đang nghĩ ra những hướng đi mới.

Các đối tác nước ngoài đang rút tiền từ các ngân hàng trong nước Các đối tác nước ngoài đang rút tiền từ các ngân hàng trong nước

Tại Đại hội đồng cổ đông Techcombank diễn ra cuối tuần, HSBC – cổ đông sở hữu gần 20% cổ phần Techcombank đã không đề cử ứng viên tham gia HĐQT nhiệm kỳ 5 năm tới. Đây là động thái mở đường cho các đối tác nước ngoài rút dần khỏi các ngân hàng trong nước, nhằm tránh xung đột lợi ích.

Viết một bình luận